Giáo viên dễ dàng đánh giá học sinh
Vấn đề giáo viên “kêu ca” nhiều nhất khi
thực hiện Thông tư 30 là việc đánh giá học sinh. Có 2 mức để đánh giá
học sinh: hoàn thành và chưa hoàn thành. Cách đánh giá như thế nặng về
định tính, không khơi dậy đươc tinh thần phấn đấu và nỗ lực của học
sinh.
Thông tư 22 sẽ khắc phục bằng 3 mức đánh
giá: Hoàn thành tốt, hoàn thành và chưa hoàn thành. Xét về mặt tâm lý
tiếp nhận, 3 mức này nhìn nhận rõ ràng hơn kết quả phấn đấu của học
sinh, phụ huynh sẽ nắm bắt rõ hơn mức độ đạt được của con mình.
Việc đánh giá theo 3 mức sẽ được giáo
viên thực hiện vào giữa kì, cuối mỗi học kì, cung cấp những thông tin
phản hồi rất hữu ích liên quan đến quá trình học tập của học sinh, những
lĩnh vực nào có sự tiến bộ, lĩnh vực học tập nào còn khó khăn. Đồng
thời, giúp học sinh nhận ra mình thiếu hụt những gì so với chuẩn kiến
thức, kỹ năng hay yêu cầu, mục tiêu bài học để cả giáo viên và học sinh
cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học.
Thông tư 22 cũng quy định thông qua quá
trình đánh giá thường xuyên đến giữa và cuối mỗi học kì, lượng hóa mỗi
năng lực, phẩm chất thành ba mức: Tốt, Đạt, Cần cố gắng (trước đây theo
Thông tư 30 chỉ có 2 mức Đạt và Chưa đạt).
Việc lượng hóa này, cho phép giáo viên,
cán bộ quản lý, cha mẹ học sinh xác định được mức độ hình thành, phát
triển năng lực, phẩm chất của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn
luyện. Từ đó giáo viên, nhà trường có những giải pháp kịp thời giúp đỡ
học sinh khắc phục hạn chế, phát huy những điểm tích cực để các em ngày
một tiến bộ hơn.
Giảm bớt gánh nặng sổ sách
Khi ghi nhận những ý kiến của giáo viên
về Thông tư 30, hầu hết chung “bức xúc” về vấn đề sổ sách quá nhiều, vừa
vất vả, vừa ảnh hưởng đến thời gian giảng dạy cho học sinh.
Theo quy định trong Thông tư 22, sổ theo
dõi chất lượng giáo dục sẽ được thay bằng bảng tổng hợp kết quả đánh giá
giáo dục, đồng thời không quy định cứng nhắc bất kì loại sổ nào sử dụng
trong quá trình đánh giá học sinh.
Giáo viên được trao quyền tự chủ theo dõi
sự tiến bộ của học sinh, ghi chép những lưu ý với học sinh có nội dung
chưa hoàn thành hoặc có khả năng vượt trội nhằm tự mình nắm bắt thông
tin và sử dụng khi cần.
Thay đổi căn bản này sẽ giúp cho giáo
viên thuận lợi hơn khi thực hiện đánh giá học sinh, có nhiều thời gian
hơn để quan tâm đến việc hỗ trợ học sinh trong quá trình dạy học.
Thông tư 22 quy định khen thưởng những
học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện và những
học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về từng nội dung
đánh giá.
Quy định như vậy sẽ cụ thể hơn, giúp cho
giáo viên và nhà trường thuận lợi hơn trong vấn đề khen thưởng học sinh
mà vẫn đảm bảo yêu cầu không gây áp lực cho học sinh, phụ huynh và nhằm
hạn chế bệnh thành tích trong giáo dục.
Triển khai không gây “sốc”
Một điểm thay đổi quan trọng nữa trong
Thông tư 22 là quy định thêm về các bài kiểm tra định kì giữa các kì học
cho khối 4 và khối 5 đối với hai môn Tiếng Việt và Toán nhằm giúp giáo
viên, cán bộ quản lí giáo dục, phụ huynh có thêm thông tin về quá trình
học tập của học sinh với hai môn học này. Học sinh qua đó cũng được làm
quen dần với cách thức kiểm tra đánh giá của bậc học tiếp theo.
Thông tư 22 cũng quy định trách nhiệm chỉ
đạo việc ra đề bài kiểm tra định kì cho hiệu trưởng, khắc phục được
những bất cập trong việc thực hiện trước đây với Thông tư 30.
Ngoài ra, các bổ sung, thay đổi cũng sẽ
làm rõ hơn quyền, trách nhiệm của giáo viên trong đánh giá học sinh và
tăng trách nhiệm của các cấp quản lí giáo dục trong tổ chức, triển khai
thực hiện đánh giá học sinh tiểu học.
Thông tư 22 sẽ bắt đầu triển khai từ ngày
06/11/2016. Đây là thời điểm giữa học kỳ I của năm học nên việc đánh
giá sẽ bắt nhịp ngay để không tạo ra bất kỳ sự xáo trộn nào cho học sinh
và giáo viên.
Phát huy, kế thừa và cụ thể hóa tinh thần
nhân văn của Thông tư 30, Thông tư 22 sẽ mang lại diện mạo mới cho giáo
dục tiểu học và đặc biệt sẽ góp phần tăng niềm tin của xã hội vào những
chủ trương đổi mới của ngành Giáo dục.
Thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ
chỉ đạo triển khai tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền rộng rãi nhằm làm
rõ các vấn đề mà giáo viên có thể còn băn khoăn, vướng mắc trong triển
khai thực hiện.
* Nội dung chi tiết đề nghị xem tại tệp đính kèm ./.
Xem văn bản gốc tại đây